Truyện Ngắn
BAY
TRÊN BÔNG GÒN
Tác giả:
Nam Thảo
Phương
thấy mình ra phi trường để đáp phi cơ về Việt Nam thăm nhà.
Phương
không biết phi truờng đó là phi trường nào nữa. Một chuyện lạ là anh đi về nước
Việt Nam cộng sản mà tay lại cầm cái passport của nước Việt Nam Cộng Hòa.
Phương
lại ngạc nhiên thêm vì anh mua giấy đi máy bay Boeing 767 mà sao anh lại leo
lên một chiếc C130!. Máy bay nầy là loại máy bay nhà binh của Mỹ ngày xưa dùng
để chuyên chở binh sĩ, vật liệu và dụng cụ.
Còn đang
ngạc nhiên, Phương nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay thấy chong chóng bên phải của
chiếc C130 đang bị cháy. Anh thấy những ánh lữa hồng đang nhãy qua múa lại, lúc
chậm lúc nhanh, lúc nhiều lúc ít, lúc phà lên lúc phập xuống theo nhịp điệu hơi
khác thường của bài nhạc mà anh đang nghe hát trên máy bay.
Trong
cảnh máy bay cháy như vậy, Phương nhìn chung quanh thấy hành khách không ai lo
ngại gì cả. Mấy cô tiếp viên hàng không đi tới đi lui với gương mặt son phấn
trắng đỏ, miệng cười tươi, tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra. Thấy vậy, anh
nghĩ :“Ai sao mình vậy! Mắc mớ gì mà mình phải lo, phải sợ!”.
Chuyện
càng lạ hơn nữa là mặc dù lữa đang cháy ở chong chóng phía bên phải, nhưng
chiếc C130 vẩn cất cánh.
Chiếc máy bay C130 khổng lồ hùng hổ, gầm thét, phóng
nước đại. Thình lình Phương có cảm tưởng như chíếc máy bay chạy lạc ra khỏi
ngoài phi đạo. Nó nhãy lên nhãy xuống trên mặt cỏ gập ghềnh, lồi lõm với tốc lực
cất cánh nhanh kinh khủng.
Phương thấy mọi vật trước mắt đang nhãy múa,
nghiêng qua ngã lại. Anh
nắm
chặc hai tay ghế ngồi với hồn phi phách tán.
Rồi bổng
nhiên, nó ngừng lại như con ngựa bị giựt cương. Nó gầm gừ chạy trở lên lại mặt
đường phi đạo, rồi đứng yên một chỗ.
Phương
nhìn về phía phòng lái. Anh bổng thấy một anh phi công mang lon Trung úy từ
trong phòng lái mỡ cửa bước ra. Anh ta tiến lại chổ Phương ngồi với gương mặt
xanh lè. Anh ta đứng lại trước Phương, khum xuống nói nhõ nhõ cái gì dường
như:
-
Anh làm
ơn đừng làm báo cáo. Tối qua tôi “đã” quá! Tôi sẽ làm lại và sẽ kỹ lần nầy!
Chắc chắn nó sẽ okay!
Phương
nhìn anh chàng trung úy phi công châm bẩm mà đầu óc ngu ngơ. Anh trung úy trở
lại phòng lái. Chiếc máy bay lại rồ máy ầm ỉ, chạy ào ào và lần nầy cất cánh
êm xuôi. Chiếc C130 chở Phương bay thiệt là êm. Anh có cảm giác nó đang bay trên
những đám bông gòn.
Phi cơ
cất cánh được 10 phút. Phương nhìn sang bên cạnh thì thấy một đại úy mặc quần áo
dù đang đọc báo, ngồi dựa ngữa. Anh nhìn kỹ coi ai. Thì ra đó Dũng, một người
bạn cùng phục vụ chung một đơn vị ngày xưa.
Anh
chàng Dũng mặt mày vẩn trẻ trung, đẹp trai như ngày nào. Thấy Phương nhìn, anh
chàng Dũng toe toét cười, đưa một tay lên vẩy qua vẩy lại:
-
Khỏe hả?
Phương
mừng rở trả lời:
-
Khi vầy
khi khác!
-
Hôm nào
tôi qua thăm anh!
-
Cứ qua!
-
Lúc nầy
thất cơ lơ vận quá!. Tôi phải qua để xin bạn một bát cơm Xiếu Mẫu cho đở lòng.
-
Thời nay
làm gì có chuyện “bát cơm Xiếu Mẫu”!
-
Tôi van
xin bạn mà!
-
Đừng
giỡn chơi! Nếu bạn là Hàn Tín thì tôi còn xét lại. Còn bây giờ bạn là Thái
Thượng Lão Quân! Chính tôi là người sẽ đến khẩn cầu bạn cho vài viên thần dược
cải lảo hoàn đồng để còn lây lất trên con đường “Sunset Boulevard” nầy! Đó
là chuyện có thể có. Còn chuyện bát cơm Xiếu Mẫu chắc là điều không tưởng rồi!
Phương
không nghe Dũng trả vốn trả lời gì cả. Anh chỉ nghe tiếng cười the thé của Dũng
xa dần, xa dần, rồi tắt mất., mà không thấy mặt mày của chàng ta đâu cả.
Sau đó,
Phương nhìn qua phía dãy ghế bên kia. Anh thấy có một số anh em cùng phục vụ ở
đơn vị củ ngày xưa. Không ai nói chuyện với ai. Anh nào anh nấy trên tay cũng
cầm một chai Budweiser. Phương thấy thượng sĩ
Hà, một quân nhân quê miền Trung từ tiểu đoàn 6 nhãy dù
đổi về, đã từng đánh giặc theo kiểu điếc không
sợ súng. Ông Hà từ dãy ghế bên kia đưa tay lên trán chào
Phương theo kiểu nhà binh. Rồi ông cầm chai Budweiser đưa qua cho Phương mà
không nói
không rằng.
Phương
nhớ có một buổi sáng, Phương vô văn phòng làm việc. Anh kéo học tủ để lấy giấy
tờ ra. Phương ngạc nhiên thấy một cái bao thơ trắng dày cộm nằm bên trên. Bên
ngoài bao thơ có tuồng chử viết tay quen quen “Kính gửi trung úy Phương”.
Phương
mỡ bao thơ ra. Anh thấy trong bao thơ một xấp tiền giấy 500 đồng Trần Hưng Đạo
và một miếng giấy trắng cở phân nữa tờ giấy học trò có mấy chử vỏn vẹn “ Kính
tặng trung úy. Thượng sĩ Hà”. Phương ngạc nhiên quá. Anh đếm hết xấp tiền thì
thấy tất cả là 7,000 đồng.
Phương bỏ 7,000 đồng lại vô bao thơ. Anh châu mày, im
lặng. Phương không hiểu tại sao khi không ông Hà cho mình tiền và ông kiếm
ở đâu ra được số tiền lớn như vậy?. Phương là một sĩ quan khố rách áo ôm.
Bảy ngàn đồng gần bằng tiền lương một tháng của một trung úy một vợ ba con lúc
bấy giờ. Số tiền 7,000 đồng trong thời buổi củi quế gạo châu nầy không phải là
ít.
Tuy
nhiên, Phương có quyết định ngay sau đó. Anh cho tùy phái gọi thượng sĩ Hà vô
văn phòng và đưa lại cho ông tất cả số tiền mà ông có ý “tặng” cho
anh… Ông Hà rất bối rối nhận lại số tiền và Phương thấy tâm hồn mình
thật thảnh thơi, nhẹ nhàng.
Chiếc
C130 bổng nhiên hụp lên hụp xuống, làm Phương giựt mình, nhưng nó lấy
lại thăng bằng rồi bay lờ lờ, lững lững, nhè nhẹ, như bay trên bông gòn.
Phương
ra khỏi phi trường Tân sơn Nhứt. Anh thấy vừa hồi hộp vừa mừng vui cho cảnh
“người xưa quê lạ”.
Phương thấy mình lái chiếc xe jeep lùn chạy qua Lăng
Cha Cả, ngã tư Bảy Hiền, trường Nữ Quân Nhân, Cư xá Phú Thọ, Trường đua ngựa.
Phương quẹo trái về đường Lý Thái Tổ, chạy ngang qua quán phở Tàu Bay. Phương
thấy khách khứa le-ngoe và ông già chủ quán ốm nhom
trong bộ quần áo bà ba trắng, đang ngồi thâu
tiền ở cửa ra vô.
Phương
chạy đến bến xe Petrus Ký. Anh lái chậm lại khi thấy trước mặt có một
nhóm lính Việt Cộng đang đứng gát. Bổng có mấy tên lính Việt cộng đầu đội
nón cối, tay cầm súng AK, chạy ra chận xe Phương lại. Một tên xấc xược:
-
Mời anh
xuống xe!
Rồi tự
nhiên anh ta quay sang mấy tên kia, ra lệnh:
-
Nhốt anh
nầy vô Connex!
Phương
bị mấy tên lính Việt cộng xô vô một chiếc connex gần đó. Đứng trong chiếc
Connex ngột ngạt, nóng như lữa đốt, Phương lẩm bẩm với mình: “Trời ơi! Sao
mình ngu như vầy? Khi không mình đưa mình vô chỗ chết!”.
Phương
lo sợ. Tim Phương đập mạnh. Phương cảm thấy như muốn nghẹt thở. Sau đó khoảng
năm, mười phút, bổng có tiếng cửa Connex dược mỡ. Phương thấy một tên lính Việt
cộng nhõ con, ốm tong teo, tay cầm AK đang đứng trước mặt. Anh nghĩ trong
đầu:”Thôi chết rồi! Nó sẽ bắn mình! Mình không làm gì cũng chết!”. Phương xô
tên lính Việt cộng qua một bên và co giò chạy như bay. Anh nghe tiếng
lính Việt cộng la lớn sau lưng:
-
Tù vượt ngục! Tù vượt ngục! Đứng
lại! Đứng lại!
Phương
càng chạy mau hơn.
-
Bắn nó!
Bắn nó! Bắn!
Phương
vận dụng hết sức bình sinh chạy như ngựa chạy, mà không biết chạy về đâu. Anh
nghe tiếng lính VC la hét vang trời lẫn với tiếng đạn AK nỗ dòn tan từng đợt
sau lưng. Phương bị trúng đạn rồi. Hình như một viên ghim vô vai và một viên
xuyên qua bấp vế. Phương đau điến, nhưng anh thấy còn khỏe và còn chạy mau
hơn trước. Anh chạy bỏ xa bọn lính Việt cộng. Phương không còn nghe
tiềng đạn Việt cộng bắn và tiếng chửi rủa của họ nữa.
Tới
chạy tới một nơi có ánh sánh như thiên đường,
Phương
bổng
gặp
một
đoàn quân gồm đũ binh chủng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đoàn quân đứng thành
hàng với đầy đủ quân phục khác nhau và trên vai đều mang súng M16A4. Rồi từ
đâu có tiếng hát rền trời:
Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn,
Đoàn hùng binh trong sương lướt
gió reo vang…
(Lục
Quân Việt Nam - Văn Giãng)
Phương
say mê nghe những lời hát hùng hồn đến nỗi quên hẳn hai vết thương đau chết
người. Bấy giờ, anh không chạy nữa, nhưng đi chầm chậm về một hướng nào mà anh
không biết hướng nào. Phương đi như lết trong nhức nhối với hai vết thương
nặng trên người. Trong đau đớn, Phương bổng nhớ mấy câu hát não nề, chết
chóc, thương đau, thê thảm, thất trận trong bài Kỹ Vật Cho Em của Trần Thiện
Thanh:
Em hỏi
anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả
lời, xin trả lời mai mốt anh về…
Anh trở
về, anh trở về, hàng cây nghiêng ngã
Anh trở
về, có khi là hòm gổ cày hoa
Anh trở
về trên chiếc băng ca
Trên
trực thăng sơn màu tang trắng…
Anh trở
về, anh trở về trên đôi nạng gổ
Anh trở
về, anh trở về, bại tướng cụt chân…
Nhớ đến đây, Phương cảm thấy thiệt nãn cho việc làm
tâm lý chiến của quân ta ngày xưa!
Bổng anh
thấy mình dừng chân trước một bệnh viện có tấm bảng đề tên: “The Dust Of Life
Hospital”. Anh lẩm bẩm với mình:” Dust Of Life! Bụi Đời!” Cái tên nầy nghe
quen quá!”. Anh nghĩ trong đầu: “ May quá! Mình đang bị thương mà gặp được nhà
thương!”. Phương đi nhanh vô bệnh viện, mong được người băng bó vết thương vừa
bị Việt Cộng bắn.
Vừa bước
vô phòng cấp cứu, anh ngạc nhiên vô cùng khi thấy một tấm bảng nhõ treo trước
mặt có mấy chử Phòng Cấp Cứu - Bệnh Viện Cộng Hòa. Một ánh hào quang loé
lên trong đầu của anh: “Trời ơi! Tại sao từ Dust Of Life Hospital lại trở
thành Bệnh Viện Cộng Hoà? Quân ta đã giành lại được quê hương rồi
chăng?”. Rồi Phương bổng thấy một cô gái tuổi độ chừng không quá 30, có gương
mặt Tây phương. Cô đứng ở đâu sẳn đó. Cô có vẻ lo lắng khi thấy mình mẫy
Phương đầy máu.
Cô chào
Phương và nói bằng tiếng Việt, giọng miền Nam thật rỏ ràng không ngọng nghệu
chút nào:
-
Chào ông! Tôi là Liz Thomas! Tôi là y tá ở đây! Bộ ông
bị thương phải không?
-
Dạ! Tôi
bị bắn cô à!
-
Ai bắn
ông vậy?
-
Việt
cộng!
Trong
khi trả lời người con gái có cái tên Liz Thomas, Phương chợt nhớ sau ngày
Sài-Gòn thất thủ, anh có đọc một quyển sách với tựa Dust Of Life do một tác giã
cũng có tên Liz Thomas. Anh hỏi cô gái:
-
Cô có
phải là Liz Thomas, tác giã cuốn Dust Of Life không?
Cô Liz
Thomas nhìn Phương với gương mặt vui vẻ, hài lòng. Đôi môi trái tim của cô
nỡ ra một nụ cười tươi, hiền từ, nhẹ nhàng và cô đưa tay ra bắt tay
Phương:
-
Dạ chính
là tôi! Ông có đọc quyển sách đó à?
-
Dạ, tôi
có đọc!
-
Tôi viết
có dỡ quá không vậy?
-
Cô viết
hay lắm!
Liz là một nữ y tá người Anh ở London. Cô được cơ quan Ockenden Venture chọn tuyển gởi sang phục vụ tại Sài-Gòn vào năm 1972. Ở Sài-Gòn, Liz đã làm việc tại Hội Dục Anh và trại Tế Bần. Sau đó, cô làm cho một tổ chức trông nom các gái mãi dâm hoàn lương. Sau ngày 30/04/1975, Liz Thomas đã ở lại Sài-Gòn 6 tháng và sau khi trờ về London, cô đã viết quyển Bụi Đời (Dust of Life), kể lại những điều mắt thấy tai sau khi Sài-Gòn lọt vào tay cộng sản. Cuốn hồi ký Dust Of Life của Liz Thomas được bày bán như tôm tươi trên các kệ sách của nhiều nhà sách lớn nhõ ở London.
Kể từ lúc Ban Mê Thuột thất thủ
cho đến khi tướng Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng cho quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, Liz Thomas cũng đã viết lại những biến cô giông giống như những gì mà
Frank Snepp, Denis Warner, Joseph Buttinger, v.v…đã viết. Điểm làm Liz
Thomas khác những tác giã khác là
Liz đã có nói lên tâm trạng của cô khi thấy lính
Việt cộng vô Sài-Gòn
sau khi lệnh đầu hàng cho quân lực Việt Nam
Cộng Hoà của tướng Minh được loan ra:
…”Ba
giờ chiều, chúng tôi nghe nói Việt cộng vô tới Chợ Lớn. Chúng tôi ra đường xem
xe tăng của Việt cộng. Lính Việt cộng cầm cờ xanh đỏ có sao vàng ở giữa. Tôi
nhìn họ mà không ngờ được. Một cảm giác kỳ thường xâm chiếm lòng tôi”…
Tâm trạng của Liz chắc cũng không khác gì tâm trạng
của triệu triệu người Việt miền Nam lúc bấy giờ. Có ai tưởng tượng được quân
Việt cộng lại được phép đặt chân lên đất Sài-Gòn và quân đội của Việt Nam
Cộng Hòa bắt buộc phải thi hành lệnh đầu hàng, rồi tan rả!
Truớc
khi kết thúc cuốn Dust of Life, Liz đã làm Phương thấy lòng vô cùng đau đớn với
chuyện kể sau đây:
…”
Tại Sài-Gòn,
nhiều lần có những toán quân nhân Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân cộng sản. Họ
cũng vẩn mặc quân phục của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, chờ khi
đêm đến, thình
lình xuất hiện tấn công lính Việt cộng tuần tiểu trên đường phố. Nhiều lính Việt
cộng bị giết. Còn những quân nhân nầy thường tự sát hay có khi bị bắt và bị hành
quyết sau đó.
Nhớ tới
đây, Phương thấy lòng đau đón cảm thương cho những anh hùng chiến sĩ của Quân
lực Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống một cách anh dũng và danh dự cho Tổ quốc Việt
Nam. Cái chết của những người quân nhân VNCH xuất hiện lẽ loi để chống lại quân
Việt cộng sau ngày miền Nam bị thất trận chớ không phải bại trận, nói lên
tinh thần bất khuất vì chánh nghĩa của dân Việt. Rồi Phương nghĩ đến những
thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Anh không biết cuộc đời của những anh em nầy
hiện nay ra sao!.
Cô Liz Thomas
thấy Phương đứng im lặng và hình như đầu óc xà quần về đâu đâu. Cô lo lắng:
-
Ông ơi!
Ông có sao không vậy? Xin mời ông vô phòng cứu cấp! Chúng tôi sẽ lo băng bó vết
thương cho ông!
Nghe cô
Liz Thomas hỏi, Phương giựt mình:
-
Không
sao! Tôi không sao cô à!
Phương
theo cô vô Phòng Cứu Cấp. Liz Thomas rửa sạch hai vết thương cho Phương. Cô băng
bó hai vết thương lại cẩn thận. Phương cám ơn Liz và xin phép được ra đi.
Bước chân ra khỏi “Bệnh Viện Cộng Hoà”,
Phương
vừa đi vừa
nghĩ:
“Mình về nước để gặp lại người vợ yêu dấu của mình, mà bây giờ đi đâu như thế
nầy?! Mình phải tìm đường chạy về nhà mình mới được!”.
Phương
lại bắt đầu chạy trở về hướng nhà mình, nhưng anh cũng không biết hướng nhà mình
là hướng nào!. Lúc nầy, mặc dù đang chạy nhưng Phương có cái cảm giác như bay
chớ không phải chạy. Phương nhìn chung quanh, thấy mình đang bay trên bông gòn.
![]()
Sau đó, Phương chạy qua đường Lê Văn Duyệt, đường Lý
Thái Tổ, ngang qua Viện Hóa Đạo. Đang chạy đến một chỗ nào đó, Phương bổng nghe
giọng nói của ai bên tai, một giọng nói mật ngọt:
-
Chú ăn
mía ghim không chú?
Phương
giật mình ngừng chạy coi ai đang mời mình mua mía ghim vậy.. Phương thấy một
người phụ nữ tuổi cở trung niên, mặt mày còn dịu dàng thu hút. Người phụ nữ
trung niên nầy đang bưng một rổ mía ghim đầy ấp.
Phương trố mắt nhìn người phụ nữ trung niên. Thì ra đó
là cô Huyền. Cô
Huyền hồi trước là giáo sư Pháp văn của Phương khi anh còn học Đệ thất. Anh
nhớ cô Huyền ngày xưa là con của ông quận trưởng châu thành X. Có tin nói: Cô
Huyền đã từng đi du học bên Pháp, tốt nghiệp bằng cấp của nước Pháp cao lắm.
Cô nói tiếng Tây như lặt rau.
Phương nhớ có khi giãng hết bài
sớm, cô Huyền hay kể chuyện phim nầy phim nọ, tài tử nầy tài tử kia cho học trò
nghe. Cô rất thích tài tử Pat Boone hát bài
Lover Letters
In The
Sand.
Phương nhớ giọng hát của cô cũng không đến nỗi nào.
Lần
đó, cô hát vài câu cho cả lớp nghe bài nầy:
On the
day like today
We
passed the time away
Writing
love letters in the sand
Have you
laughed when I cried
Each
time I saw the tide
Take out
love letters from the sand…
(Tạm
dịch)
Có ngày
cũng giống hôm nay
Có ta
đôi bóng theo ngày lang thang
Viết lên
bải cát mơ vàng
Tình thơ
ân ái chứa chan trọn đời
Mỗi lần
nước cuốn thơ trôi
Em
cười tôi khóc cho đời vở tan
Cô rất sùng bái nhà triết học Pháp Jean Paul Sartre.
Lúc bấy giờ đám học trò trong lớp có biết Jean Paul Sartre là ai đâu!.
Đám học trò mới có Đệ thất, ngồi nghe cô nói
chuyện thâm sâu như vịt nghe sấm.
Sau nầy
lớn lên được học hai ba chử, Phương mới biết ra Jean Paul Sartre là một triết
gia Pháp nỗi tiếng với chủ nghĩa hiện sinh. Ông là một trong những đệ tử của chủ
nghĩa hiện sinh vô thần do Friederich Nietzche khai sinh.
Với
Sartre, hiện sinh là một sự tồn tại. Sự tồn tại nầy không giống như sự tồn tại
vật thể của vũ trụ, nhưng là sự tồn tại của một con người trong vũ trụ ý thức
được sự hiện hửu, sự tồn tại của chính mình.
Theo Sartre, trên trái đất nầy không có một ý nghĩa cuộc đời nào đã được tạo
sẳn. Ý nghĩa cuộc đời chúng ta do chính ta tạo nên.
Chủ
nghĩa hiện sinh cho rằng con người là một hửu thể độc đáo trên vũ trụ, có quyền
lực quyết định giá trị của mình tùy theo quan điểm của mỗi người trong hoàn cảnh
và môi trường chung quanh.
Con người chỉ nên
trung thành với cái TÔI không đáng ghét và không tin bất cứ hứa hẹn gì của ai từ
bên kia thế giới khác.
Sartre cho rằng cuộc sống thực tại của con người không
có gì liên quan với Thượng Đế. Cứu cánh đạo đức duy sử tôn giáo bất biến đối với
Sartre là một không tưởng. Con người không phải là hiện thể được sáng tạo bởi
bất cứ quyền lực tối cao nào và phải được tự do để sáng tạo để được tồn tại. Đối
với phái chủ nghĩa hiện sinh vô thần mà Sartre là một đại diện, Thượng Đế kể như
không có. Thượng Đế là một đấng vô hình đã chết.
Sartre
chán ngán cuộc đời phi lý, bị gò bó với đạo đức từ đạo giáo. Sartre muốn đi tìm
một lối thoát cho tâm linh và sự sống của con người với một chủ nghĩa hiện sinh
ngã theo phe vô thần.
Phương
đứng nhìn cô Huyền như trời trồng với ký ức lặng lẽ quay về và đầu óc bị chìm
sâu trong nghĩ ngợi. Cô Huyền cũng đứng nhìn Phương. Thấy Phương im lặng không
nói gì, cô cũng không nói không rằng. Sau một hồi lâu, cô Huyền hỏi lẹ:
-
Em có
phải là trò Phương đó không? Làm gì nhìn tôi như ốc mượn hồn vậy?
Phương
nhìn rổ mía ghim trên tay cô Huyền, vừa lúng túng vừa ấp úng:
-
Thưa cô!
Dạ phải! Sao cô bây giờ…đi bán mía ghim như thế nầy?
Cô Huyền
nhoẽn miệng cười, nhưng Phương thấy miệng cô không còn có màu son đỏ chót như
năm xưa:
-
“Lao
động tiên tiến” mà em! Bây giờ ai cũng phải làm đũ mọi thứ nghề để có được miếng
ăn đó em ơi!. Chỉ trừ có mấy ổng! Thôi! Cô
còn
đi bán nghe em! Bái-bai!”
Cô Huyền đưa tay vẩy chào Phương, rồi biến nhanh đi
đâu mất. Phương nói nhõ một mình: “Lao động tiên tiến?!!”. Anh lắc đầu,
nhìn tới nhìn lui,
rồi
lại tiếp tục co giò chạy.
Phương
chạy ngang qua hảng la-ve La Rue trên đường Nhân Vị. Mùi của men ruợu la-ve thơm
thơm một cách kỳ lạ, làm Phương thấy người như lâng lâng, như ngây ngây. Anh nhớ
ở đường Nguyễn Kim có quán nhậu Năm Bông chuyên bán la-ve hơi. Có những buổi
chiều nắng đẹp, Phương và vài bạn bè đến đây thưởng thức rượu ngon, cảnh vật hửu
tình.
Nói là
cảnh hửu tình cho nó có vẻ nên thơ trong “cuộc nhậu”. Chớ làm gì nơi đây có được
cái cảnh trăng thanh, gió mát, có được vườn ruộng, trúc tre, hoa thơm, suối
chảy, chim kêu!
Nếu ở
đây có được như vậy, thì trên con đường chiều nắng nhạt với cảnh đời bon chen,
chụp giựt, đầy hỏa mù nầy, người phiêu-nhiên, chắc chắn sẽ chọn:
Một mai,
một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn
dầu ai vui thú nào.
Ta dại,
ta tìm nơi vắng vẻ;
Người
khôn, người đến chốn xôn xao.
Thu ăn
măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm
hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu,
đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem
phú quý tựa chiêm bao
(Cảnh
Nhàn – Bạch Vân Quốc Ngữ Thi - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Phương vừa nghĩ trong đầu vừa chạy ngang một căn nhà mà anh thấy quen thuộc quá.
Anh quay đầu chạy trở lại để coi căn nhà đó của ai. Anh đứng nhìn kỹ lại căn nhà
đó một hồi. Thì ra căn nhà đó là nhà của mình. Anh mừng không sao tả hết.
Phương bước vô, gỏ cửa gấp rút. Anh không nghe ai lên
tiếng cả. Anh gỏ vài lần nữa. Vẩn không có tiếng ai trả lời.Thấy cửa không khóa,
anh đẩy đại để đi vào nhà. Bên trong
chỉ có ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu để trên
một cái bàn nhõ ở giữa nhà. Phương nhìn chung quanh. Phòng khách trong căn nhà
trống trơn, không có dồ đạc gì cả.
Anh cất
tiếng gọi tên của vợ:
-
Nguyệt
ơi! Nguyệt ơi!
Im lặng.
Không có tiếng trả lời. Phương đi tới đi lui, vừa gọi tên vợ nữa:
-
Nguyệt
ơi! Nguyệt ơi!
Vẩn
không có tiếng trả lời. Ngọn đèn dầu leo lét, phất qua phất lại theo gió thổi từ
đâu xuyên qua cửa sổ, làm căn nhà thành một cảnh như trong liêu trai chí dị.
Phương đi vô phòng của vợ chồng anh. Anh thấy mọi thứ
trong phòng cũng còn y nguyên như cũ. Chiếc giường đôi bằng mi-ca vẩn nằm ở giữa
phòng. Cái tủ đựng sách của Mỹ mà anh mua ở chợ trời ngày nào vẩn còn để ở góc
phòng. Cái tủ kiến bằng mi-ca cũng nằm bên đầu giường như xưa. Bên cạnh đó,
Phương thấy một khuôn lộng
hình của anh và Nguyệt chụp chung nằm trên một
cái bàn cây cũ kỹ. Một cây lược bằng ny-lon màu vàng và mấy cây kẹp tóc của vợ
mình nằm gần đó.
Lòng
Phương quá đau đớn, xốn xang. Bất cứ cái gì của Nguyệt giờ đây cũng giống như
hình bóng yêu dấu của người vợ cả đời hy sinh cho chồng con của mình.
Anh cầm
lên tấm hình mình và người vợ yêu dấu chụp
chung nhau ngày nào. Phương
nhìn gương mặt hiền từ của người vợ đã từng chia ngọt xẻ bùi với mình trong cuộc
đời, nhất là trong những năm dài sau ngày nước non chìm sâu vào cỏi điêu linh.
Nước mắt Phương rưng rưng lúc nào anh không hay. Anh để tấm hình xuống. Anh thấy
hồn mình bay bổng về đâu, vẩn vơ với đầy tê tái, xót xa.
Phương thẩn thơ bước ra sau vườn như người có xác
không hồn. Anh đưa mắt nhìn ra cuối vườn. Phương bổng thấy Nguyệt, vợ mình, đang
đứng yên lặng ở đó như một tượng hình bất động.
Lòng anh
mừng vô kể. Phương chạy nhanh về phía Nguyệt. Anh cảm thấy cơ thể mình nhẹ nhàng
quá và anh chạy nhưng tưởng như mình đang bay trên bông gòn.
Anh vừa
chạy vừa gọi tên Nguyệt thật to:
-
Nguyệt!
Nguyệt!
Phương
chạy đến ôm chầm lấy Nguyệt. Nước mắt anh đẩm ướt qua mi. Nguyệt, người vợ
hiền của Phương, cũng ôm lấy chồng. Đôi mắt của nàng thật u buồn. Nguyệt gục
đầu lên vai Phương nức nỡ nhưng không nói một lời. Thình lình, với đôi mắt còn
đầy lệ, Nguyệt gở hai tay Phương ra. Nàng chạy nhanh vô nhà.
Phương
chạy theo Nguyệt, nhưng khi vô nhà anh không thấy Nguyệt ở đâu cả! Anh chạy
đi tìm Nguyệt khắp nơi trong nhà, nhưng hình bóng của người vợ hiền đã biến mất
đi đâu!
Phương
gọi lớn tên vợ:
-
Nguyệt!
Nguyệt!
Anh đi
từ trước ra sau, miệng kêu tên vợ mình. Vẩn không có một một tiếng trả lời ngoài
tiếng kêu của Phương vang dội giữa đêm khuya. Phương ngồi sụp xuống sàn nhà. Anh
ôm đầu đau khổ, lẩm bẩm một mình:” Trời ơi! Vượt ngàn dậm xa xôi trở về đây, anh
mong gặp lại em. Mà giờ đây, em đã đi đâu rồi? Em nỡ nào bỏ anh vậy sao Nguyệt?
Nguyệt ơi!...”.
![]()
-
Anh!
Anh!
Phương
nghe tiếng Nguyệt, vợ anh. Anh ráng mỡ mắt ra, nhưng không được. Nguyệt tiếp tục
lắt vai Phương và kêu thêm mấy lần nữa:
-
Anh!
Anh!
Phương giựt mình, tỉnh dậy . Anh mỡ mắt ra,
thấy mình đang nằm trên giường ngũ. Tim Phương
còn đập mạnh trong lòng ngực. Anh còn thở hổn hển. Anh thấy Nguyệt
đang ngồi kế bên. Tiếng Nguyệt dịu hiền:
-
Anh ngũ
mê thấy gì mà la dữ vậy?
-
Đâu có
thấy gì đâu! Anh thấy về Việt Nam!
-
Trời ơi!
Sao đầu anh đổ mồ hôi dữ thế nầy?
Nguyệt
vừa nói vừa vói tay rút hai tấm giấy kleenex lau lên trán Phương:
-
Thấy về
Việt Nam mà làm gì anh lại kêu la dữ vậy?
Phương
thở lại được như bình thường. Anh nhìn Nguyệt mĩm cười:
-
Anh nằm
chiêm bao thấy vòng vo tam-quốc, hết chuyện nầy qua chuyện khác! Anh thấy hồi
anh và gia đình còn xa nhau. Anh thấy anh về kiếm em và các con. Anh gặp được
em, nhưng bổng nhiên em biến đâu mất. Anh sợ mất em nên kêu tên em lớn trong
giấc mơ như vậy. Chuyện dài dòng văn tự lắm! Đề sáng anh kể lại cho em nghe!
Nguyệt
bóp nhẹ hai bàn tay của Phương. Nàng cười nhõ và đùa:
-
Thiệt vậy không? Hay là anh mơ về
kiếm
cô nào đó?
Nàng hôn
lên má Phương và áp má mình lên má của chàng. Phương cảm giác được hơi ấm nóng
từ người Nguyệt đi vào da thịt mình.
Phương
cảm thấy như mình đang bay trên bông gòn. Anh ôm chặt lấy vợ như ôm lấy một bảo
vật vô giá trên đời. .
Nam Thảo