Duy Xuyên
Tacoma
Chiều hôm đó, chị tôi dặn dò tỉ mỉ trước
khi tôi đi vượt biển.
Tôi vội vã đến ngã tư
Quốc Lộ 1, gần Ty Thông Tin NhaTrang, đứng chờ xe “Lam” rước hành khách từ Nha
Trang, đi Tháp Bà, Ba Làng.
Nhớ lời chị tôi căn dặn:
"Cậu cẩn thận nhé! Người tài xế xe Lam đội mũ lưỡi trai đen, miệng ngậm điếu
thuốc lá.
Khi xe ngừng lại, anh ta sẽ hỏi cậu: "Chú Hai đi về đâu?"
Cậu phải đáp: "Cho tôi về chợ chồm hỗm Ba Làng."
Tôi từ giã chị ra đi, đầu ngoảnh lại nhìn ngôi nhà mà ở đó, tôi đa sinh ra và
lớn lên với tiếng khóc và lời ru vỗ về của mẹ. Tay xách túi dết đựng
hành
trang,
mà
lòng
bịn rin, không nỡ ra đi.
Sau
vài
phút
lưu
luyến,
tôi
vội
vàng
đi
xích
lô
đến
chỗ
hẹn.
Hồi
hộp
đứng
chờ
chiếc
xe
Lam
dẫn
dắt
tôi
vượt
biển,
lòng
vừa
lo
sợ
vừa
nôn
nao.
Nếu
chuyến
vượt
biển
này
bất
thành,
lỡ
bị
bọn
công
an
phát
giác,
tôi
chỉ
còn
có cách, vào trại tù thêm một lần nữa thôi. Sáu năm
bị cầm tù cũng
đủ
làm
cho
tôi
hãi
hùng, khiếp sợ. Mất bình tĩnh vì đứng đợi mãi, không thấy chiếc xe Lam nào
dừng lại ở góc đuờng, đúng chỗ hẹn, để đua tôi vượt biển, bỏ nước ra đi, như kẻ
trốn chạy.
Những giây phút đợi chờ dằng dặc rồi cũng trôi qua nhanh! Bỗng chốc, một chiếc
xe Lam chở đầy hành khách, dừng lại, tôi nhìn người tài xế, đang đội mũ lưỡi
trai đen, nhưng trên môi không có điếu thuốc lá; do đó tôi còn chần chờ vì không
biết, có phải chiếc xe Lam này, dẫn dắt tôi đến chỗ tập trung hay không. Đang
phân vân, do dự, người tài xế đã giục tôi:
"Lên xe ngay đi kẻo trễ! Có phải ông Hai về chợ chồm hỗm Ba Làng không? "
Tôi biết chắc chắn chiếc xe Lam này sẽ đua tôi đến chỗ tập trung, theo kế hoạch.
Tôi vội nhảy lên xe ngồi cạnh người tài xế. Xe rồ ga chạy nhanh ra hướng Tháp
Bà. Tôi nhìn về phía sau, sáu người đan bà và một em bé khoảng sáu tuổi, đang
thiêm thiếp ngủ trong lòng mẹ.
Những người này không có vẻ gì là người vượt biển, vì ai ai cũng có mang theo
thúng, mủng như phường phe phẩy! ( Danh từ này đuợc bọn công an cộng sản gán ép
cho những ai hành nghề buôn bán vào thời điểm sau 30/4/1975 - 1985.)
Khi chạy gần đến ngã ba rẽ vào chợ chồm hỗm Ba Làng, xe bị hỏng máy. Người
tài xế vừa nhảy xuống xe vừa nói:
"Tất
cả
ngồi
im
trên
xe,
tôi
giả
bộ
làm
cho
xe
bị
hỏng
máy
dọc
đuờng,
chờ
trời
tối
sầm
lại,
mình
sẽ đến
chỗ
tập
trung.
Nếu
đến
sớm
quá,
bọn
công
an
biên
phòng
phát giác thì hỏng bét."
Nói xong, anh ta vội vàng mở máy xe, lau chùi lung tung. Có ai đi ngang qua, anh
cũng giả vờ cằn nhằn, chửi thề inh ỏi: "Đồ chó chết. Làm ăn như thế thì chết tôi
rồi! Mới sửa sáng nay, bây giờ lại hư nữa. Mẹ kiếp! Thằng thợ máy của lão Ba Gà,
làm ăn chẳng ra con mẹ gì hết."
Anh ta giả vờ loay hoay nắm mấy sợi giây điện, lung lay vài lần, rồi lại leo vào
buồng lái, tra chià khóa, nổ máy. Chiếc xe vẫn im lìm. "Mẹ kiếp!" Anh ta chửi
thề, bực dọc đá vào thùng xe, mở nắp bình xăng, mặc dù anh ta đã biết xăng vẫn
còn đủ, để có thể chạy thêm vài chuyến Nha Trang - Ba Làng.
Mọi người qua lại tưởng đâu chiếc xe hỏng máy, chết gí bên đuờng. Tôi ngồi trên
xe, lòng nôn nao, chỉ muốn đến chỗ hẹn càng sớm càng tốt, vì nếu mình đến trễ,
con tàu vượt biển đã ra khỏi, lỡ một cơ hội bằng vàng.
Một chập lâu sau, trời tối sầm lại. Người tài xế lên xe, cho máy nổ, chạy về
hướng Ba Làng. Khi xe vừa ngừng, tôi đuợc người đan ông, áo quần lũn cũn, dẫn
tôi đi vào một khúc quanh co. Đến một căn nhà, người này đua tôi lên gác thượng,
chất đầy lưới đánh cá. Ông ta bảo tôi nằm chờ, khi nào xuống ghe, ông ấy sẽ gọi.
Trước khi rời khỏi gác xếp, ông ta còn căn dặn tôi:
"Nếu công an khu vực xét hộ khẩu, phát
giác
có
người
lạ
mặt,
anh
phải
nói
anh
là
người
vá
lưới."
Ngạc nhiên, tôi hỏi: "Nhưng tôi không biết vá lưới!"
Ông ấy gắt gỏng: "Thì anh cứ nhận đại
như
vậy
đi.
Tụi
công
an
có
thằng
nào
biết
vá
lưới
đâu
mà
anh
sợ."
Tôi chưa kịp hỏi thêm một vài chi tiết, để đối phó với công an khi bị xét hỏi,
ông ta đa rời khỏi gác lửng. Còn lại một mình với nỗi lo âu, tôi bung lưới đánh
cá ra, tìm chỗ rách. Tôi soạn đồ
tập tàng, như kim, cước, giây nhợ, các thứ linh tinh
lỉnh kỉnh bày ra trước mặt, đểlỡ công an khu vực có khám xét, tôi cũng có
cách trình bày.
Đang
loay hoay quan sát những vết vá cũ và tập cách làm. Tiếng người
đan
ông vội vã gọi tôi: "Xuống ngay
đi!
Theo tôi nhanh lên!"
Tôi vội vàng tụt xuống đất nhưng không quên mang theo túi hành lý. Theo người
đan ông ra bãi biển, và ngồi trên một chiếc thúng câu, rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho
hai chỗ ngồi. Người đan ông chèo chòng chành trong đem tối. Tôi cố nhìn ra vùng
biển nhưng chẳng thấy gì cả.
Một chập lâu sau, chúng tôi cập vào chiếc thuyền lớn. Ông ta giúp tôi leo lên
ghe.
Khi
trèo
lên
đuợc
chiếc
ghe
lớn,
tôi
nghe
lao
xao
có
tiếng
nhiều
người
đang
gọi
nhau
ơi
ới.
Tiếng
đan
bà
gọi
chồng.
Đan
ông
gọi
vợ,
gọi
con...
Tìm một góc ghe, tôi ngồi xuống, tim đập mạnh phình phịch, chỉ mong ghe sớm khởi
hành. Một chập lâu sau,
tôi
thấy
ánh
đen
pin
rọi
sáng,
quất
qua
quất
lại
trên
mạn thuyền. Sau đó không bao
lâu: Có tiếng người la to:
"Anh
Ba,
đủ
người
rồi.
Năm
mươi
sáu
(56)
tất
cả.
Dọt
lẹ
đi!"
Tôi nghe tiếng động cơ nổ bình bịch, thuyền chòng chành rồi vượt sóng. Mũi
thuyền vươn cao, lướt nhanh về hướng trước, để lại phía sau một đuờng cong vòng
vèo màu
trắng bạc, trên mặt nước biển đen kìn kịt. Bầu trời tối đen. Màn đem buông xuống
đại dương.
Chiếc ghe có chiều dài khoảng mười lăm thước, chiều rộng độ chừng hai mét
rưỡi. Ghe rất nhỏ, có hình dáng như thuyền đánh cá của các ngư phủ, chứ
không có dáng dấp của một chiếc tàu to, để có thể vượt đại dương. Cảm giác sợ
sệt bỗng chốc tràn lên tim óc, khi tôi nghĩ đến, nếu trong chuyến hải trình
chẳng may gặp một cơn bão nhỏ hoặc một ngày biển động, chiếc ghe sẽ vỡ tan ra
từng mảnh vụn, làm tôi khiếp sợ!
Mọi người hình như đang lo lắng nhìn chiếc ghe nhỏ xíu, trong khi những vì sao
khuya lấp lánh thắp sáng bầu trời. Thuyền chạy gần đến sáng, có tiếng người hét
to, dõng dạc như truyền lệnh:
"Bà
con
ơi!
Yên
trí
rồi!
Chúng
ta
đã ra đến Hải Phận Quốc Tế!"
Nhiều tiếng vỗ tay, reo hò, mừng rỡ. Lúc bấy giờ tôi mới hoàn hồn, nhìn quanh,
ánh sáng lờ mờ của các vì sao biển, tôi nhận thấy trên thuyền phần
đông là đan bà, một số ít đan ông và trẻ con. Mọi người đang nằm, ngồi la liệt
trên mạn thuyền. Có người tựa vào lưng nhau, ngủ gà ngủ gật. Một vài bà mẹ ôm
con trong lòng
thiêm thiếp ngủ. Bên cạnh tôi, một thiếu nữ, ngồi im lặng, hai tay đang chấp
lại, van vái nguyện cầu Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn. Thấy vậy, tôi cũng chấp
hai tay lên ngực, van vái Phật Bà phù hộ. Tiếng gió thì thầm càng lúc càng mạnh.
Trời se lạnh. Tôi vội mở gói hành trang, lấy cái áo ấm, choàng vào người.
Cảm thấy khát nuớc. Tôi
nhìn quanh, muốn tìm chỗ để
uống
nước,
nhưng
không
biết
nước
để
nơi
nào.
Tôi hỏi người đan ông bên cạnh:
- Mình uống nước
ở đâu ông bạn?
Ông ta đáp:
- Tôi cũng không biết nữa! Ông thử hỏi chủ ghe!
Tôi phân trần:
- Tôi không biết ai là chủ ghe?
Thiếu nữ ngồi bên cạnh tôi, nói:
- Chủ ghe là ông Ba Gà, đang ngồi trên đai chỉ huy đó!
Người đan ông, hỏi tôi:
- Anh không biết chủ ghe hả! Vậy anh đa giao vàng cho ai?
Tôi giải thích:
- Chị tôi thu xếp nên tôi không biết chủ ghe là ai!
Ông ta bật lửa lên hút thuốc, nhờ ánh sáng tỏa lên trên khuôn mặt, tôi thấy ông
ta khoảng 45 - 47 tuổi. Tôi lo lắng, không biết ai là tài công, tôi hỏi:
- Anh có biết ai đang lái ghe này không?
- Đại Úy Bình, trước
đây làm việc tại Hải Quân Công Xưởng.
Tôi nửa mừng nửa lo, vì nếu Hải Quân Đại Úy Bình, điều
khiển
chiếc
ghe
này,
mình
không sợ máy móc bị trục trặc, nhưng các anh em Hải Quân Công Xưởng, cũng có
người không rành về hải trình lắm. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, đa có đuợc một Sĩ
Quan Hải Quân đảm nhiệm tài công, cũng bảo đảm một phần lớn rồi.
Chúng tôi hàn huyên bâng quơ về chuyến hải trình...vượt biển.
Bỗng chốc mặt trời nhô lên bên trái của chiếc ghe, mặt biển tỏa một vùng ánh
sáng chan hòa.
Quang cảnh trên ghe thật ồn ào, náo nhiệt.
Kẻ
nằm
người
ngồi.
Mặt mày hốc hác. Có tiếng khóc của trẻ thơ đòi mẹ cho bú, với lời người mẹ dỗ
dànhdại. Nhiều tiếng la hét của người lớn gọi tên ông chủ ghe đòi nước uống:
"Ông Ba Gà ơi! Cho nước uống! Chúng tôi chết khát đến nơi rồi!"
Nhiều người kêu gào nối tiếp:
"Chị Ba Gà ơi! Chị đã hứa với chúng tôi, chủ ghe sẽ cũng cấp nước uống và thức
ăn, đến khi ghe cập đảo Phi-líp-pin mà!"
Chẳng nghe thấy tiếng trả lời của vợ chồng ông Ba Gà.
Có người hỏi: "Có ai thấy vợ chồng ông Ba Gà ở đâu không?"
Tiếng trả lời từ cuối mạn thuyền:
"Ông Bà Ba Gà đang ở trên đai chỉ huy đó! Mình ở dưới này, làm sao kêu cho ông
bà ấy nghe đuợc!"
Có người giải thích thêm:
"Ghe
đang
chạy
ngược
gió.
TIếng
kêu
của
mình
bị gió cuốn về phía sau ... làm sao ông bà ấy nghe đuợc.
Tôi
đề
nghị
có
anh
nào
khoẻ,
leo
lên
đai
chỉ
huy,
kêu
ông
bà
chủ
ghe
cho
nước
uống,
chứ
anh
chị
em
mình
nhịn khát từ sáng sớm hôm qua, đến
bây
giờ
làm
sao
chịu
nổi."
Vào lúc đó, một thanh niên còn trẻ, dõng dạc: "Để tôi đi cho! Chờ tôi một tí!"
Tôi nhìn về
hướng
người
thanh
niên.
Anh
ta
vừa
mở
gói
hành
lý
vừa lấy ra một bộ quân phục rằn ri nhưng
tôi không rõ
thuộc binh chủng nào. Anh choàng chiếc áo lính vào người,
lẩm bẩm: "Khốn nạn! Ba chục khâu(*1) chứ có ít ỏi gì
đâu!
Chính ông Ba Gà đã hứa với tôi, họ sẽ bao luôn thức ăn và nước uống trong suốt
chuyến đi kia mà."
Nói xong, anh vịn vai người này, đến vai người khác rồi leo lên khỏi khoang
thuyền. Một chập lâu sau, anh mang xuống một “can” nước 20 lít với cái ly nhựa.
Anh vừa hì hà hì hục khiêng can nước,
vừa giải thích: "Ráng uống cầm hơi, ưu tiên cho trẻ em, đan bà và người đau ốm.
Một ngày chỉ đuợc phát một “can” nước như thế này mà thôi. Hết thì
ráng nhịn. Ổng bả nói sao tôi lập lại với anh chị em như
vậy."
Có tiếng chửi thề:
"Để tôi tính ... ổng bả cho.
Đồ đe
tiện!
Bốn
năm
chục
mạng
người
mà
chỉ
đuợc
một
can
nước
này
hay
sao?"
Có tiếng đồng tình của một người
đan bà, giọng the thé: "Đúng đó! Chủ ghe phải có trách nhiệm chứ"
Dưới ánh trăng lờ mờ, tôi thấy một người lính khác, hăm hở trèo lên mạn thuyền,
trên tay cầm theo cây súng Colt 45,. Linh tính báo cho tôi chuyện không lành sẽ
xảy ra, vì theo tôi nghĩ, ông Ba Gà nào đó, người đã tổ chức chuyến vượt biên
này, không phải là tay tầm thường. Hơn thế nữa ông ta cũng phải có một vài đan
em du đảng, đi theo để yểm trợ chủ
ghe khi cần. Tôi đứng dậy chận anh quân nhân này lại và góp ý:
"Mình nên tìm cách thương
lượng
với
chủ
ghe,
để đuợc
việc, không nên ẩu đả gây ra những việc không hay."
Vừa dứt lời, người lính nhìn thẳng vào mặt tôi, nói:
"Thiếu Tá, để tôi tính ông bà này cho Thiếu Tá xem. Không trị họ, mình sẽ chết
khát, trước khi đến Phi hay Thái Lan đó! Đồ bủn xỉn tính toán từng giọt nước với
thuyền nhân."
Tôi giải thích thêm:
"Tuy nhiên, mình sẽ hành động khi cần. Tình trạng cũng
chưa
đến
nỗi
nào. Hãy chờ xem ra sao!"
Cả mấy chục người đều đồng tình với tôi, khuyên anh quân nhân nên giữ bình tĩnh.
Sau khi nghe nhiều người giải thích với thái độ ôn hòa, người lính cũng dịu
giọng và nói:
"Tùy bà con, chú bác, anh chị em thôi. Chứ tôi cũng liều lắm đó!"
Anh ta ngồi phịch xuống bên cạnh tôi:
"Thiếu tá Duy anh còn nhớ tôi không?"
Tôi đang lưỡng lự, chưa nhận ra đuợc anh ấy là ai. Anh ta vừa nói vừa giới
thiệu: "Trại A30 đây. Lán thợ mộc nè!"
Tôi mừng rỡ, vì dù sao cũng có một bạn tù trong chuyến hành trình nguy hiểm này.
Tôi ôm choàng anh ta và hỏi: "Đi một mình hay đi với ai?"
"Một mình? Còn Thiếu Tá?"
Tôi đáp: "Cũng cô đon, một mình."
Chúng tôi nhìn nhau trong ánh mắt thông cảm và thương
yêu nhau. Chúng tôi ngồi
ôn lại những mẩu chuyện vui buồn khi còn trong quân ngũ. Ai nấy cũng chuyện trò
cả đem
không
ai
ngủ
đuợc.
Thời gian chậm chạp trôi qua đến ngày thứ ba, lênh đenh trên mặt biển, mênh
mông. Dưới mạn ghe mùi hôi thúi nồng nặc của phân và nước tiểu xông lên làm mọi
người khó chịu. Một vài người say sóng. Một người đan bà há to miệng muốn ói,
nhưng ói không đuợc. Bà ta lấy chai dầu xanh, le lưỡi liếm. Bất ngờ bà ọc một
cái, ói khan ra nước vàng tanh tưởi, vung vãi lợn cợn một vài hột cơm nhầy nhụa
chưa kịp tiêu hóa. Bà ói văng lên trên quần áo của người đan ông đang tựa lưng
vào thành ghe, ngủ thiêm thiếp. Ông ta choàng dậy, chửi thề thô tục.
Bầu trời tĩnh mịch. Thuyền trôi trên sóng. Bỗng nhiên có tiếng hét to, từ trên
phòng Chỉ Huy của ông bà Ba Gà vang vọng, nghe rõ từng tiếng một:
"Có tàu vớt rồi! Bà con ơi!"
Tôi vịn thành ghe, ngước mắt nhìn quanh. Một chấm đen nhỏ xíu xuất hiện trên mặt
biển mênh mông về phía phải của con thuyền vuợt biển.
Chấm đen càng lúc càng rõ dần.
Mọi nguời dường như đang đứng dậy, chồm người nhìn về phía chấm đen. Hy vọng đa
vươn lên trong lòng người với nhịp tim đập phình phịch. Tàu buôn đến gần, thuyền
vượt biển chòng chành trong giây lát. Chiếc tàu dừng lại, quan sát rồi tiếp tục
di chuyển. Tôi dùng hai cái mũ lưỡi trai màu trắng, đánh tín hiệu, cầu cứu:
"SOS!"
Tàu bên kia cũng đáp lại bằng cờ:
"Chúng tôi đang trên đuờng đến Bắc Hàn! Không thể giúp các bạn đuợc. Cố gắng chờ
tàu khác!"
Tàu buôn vội vã chạy nhanh, để
lại
bao
nhiêu
lời
chửi
thề
inh
ỏi.
Tôi
thấy
trên
thành
tàu
chữ
France,
nên
biết
đó
là
tàu
buôn
của
nguời
Pháp.
Tôi
giải
thích
với
mọi
người
trên
thuyền
vượt
biển.
Nhiều
tiếng
thở dài ngán ngẩm
chen
lẫn
tiếng
chửi
thề
với
nỗi
buồn
thất
vọng!
Trong
tiếng
tức
tưởi
bỗng
vang
lên
âm
thanh
nho
nhỏ
của
thiếu
nữ
ngồi
bên
cạnh
tôi,
tiếng
cầu
kinh
Phật
Bà
Quan
Âm
từ
bi
cứu
khổ
cứu
nạn.
Có
người
còn
muốn chồm dậy, ngước
nhìn
về phía sau, chiếc tàu buôn của người
Pháp. Họ hy vọng vì
lòng nhân đạo,
tàu
buôn
sẽ
quay
đầu
lại,
để
cứu
vớt
thuyền
vượt
biển
không!!!
Nhưng
thêm
một
tiếng
thở
dài,
ánh
đen
rực
rỡ
trên
chiếc
tàu
buôn
mờ
dần
trong
sương
đem,
phút
chốc
cũng
tan
biến
vào
màn
đem
che
phủ.
Tàu
buôn
thật
sự
cúi
mặt
bỏ
đi!
Vừa
lúc
ấy,
có
tiếng
người
đan
bà,
giận
dữ
hét
to,
xé
tan
bầu
không
khí
u
buồn
trên
khoang
thuyền
chật
hẹp,
tanh
tưởi,
ngột
ngạt
mùi
nước
tiểu:
"Cái con
đi lăng loàn trắc nết kia! Mày là cán bộ Việt Cộng! Dụ dỗ chồng tao,mang mày
vượt biển, để qua Mỹ, chúng mày làm tình
báo, lấy tin tức cho bọn cộng sản phải không?"
Tiếng người
đan bà, giọng Bắc, the thé đáp lại:
"Ê!
Con
mụ
kia!
Mày
nói
ai?
Chính
mày
mới
đích
thật
là
con
đĩ
lăng
loàn
trắc
nết!
Chồng mày vừa mới đi tù chưa đầy một năm... mày ở nhà, đã đú đa đú đởn, dững mỡ
với thằng cán bộ địa phương! Ép buộc chồng mày phải ký giấy ly hôn, mày còn oan
ức, ghen tức nỗi gì! Ai giựt chồng mày! Đây nè! Mày muốn tao trình làng, trình
xóm Giấy Thuận Tình Ly Hôn mà mày đa mang vào trại tù, ép buộc chồng mày ký tên
vào, để mày dễ đú đởn. Mày có muốn tao trình cho bá quan thiên hạ, rõ bộ mặt dâm
đảng của mày không? Cái con đi chó!" Vừa nói bà ta vừa kéo cái xách tay, để moi
giấy tờ...
Người đan bà nói giọng Huế cũng chẳng vừa, đốp chát lại ngay. Bà vừa nói vừa xắn
tay áo, định xông tới nhưng hai chân bủn rủn không bước đuợc. Bà buông miệng ra
là nói tục:
"Đồ ngựa rượt! Tao không để mày yên đâu! Tao sẽ tố cáo với Ủy Ban Thanh Lọc Liên
Hiệp Quốc, mày là cán bộ quản giáo của trại tù Đá Bàn, đã dụ dỗ chồng tao đi
vượt biển!"
Người đan bà nói giọng Bắc, cũng chẳng phải là tay vừa. Giọng bà the thé, đanh
đá cất cao, bà vỗ ngực đanh đạch, át hẳn cả tiếng động cơ nổ bình bịch.
"Biết ai tố cáo ai? Cái thằng đi đực đang ngồi bên cạnh mày đó! Chính nó mới là
cán bộ tình báo, dụ dỗ mày vượt biển. Qua Mỹ nó sẽ quậy phá Cộng Đồng tỵ nạn.
Còn như tao, chẳng qua tao phải vào công an để có đuợc tiêu chuẩn mà sống qua
ngày, chứ tao có thương yêu, tin tưởng gì cái bọn cộng sản đó đâu.
Chín năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc đói queo râu. Bà không vào
công an để bị chết đói hả? Bố mẹ mày cũng chẳng dám tố cáo bà đâu! Mày mà còn
lải nhải, bà sẽ đấm vào mồm mày bây giờ!"
Nghe qua câu chuyện hai người đan bà đánh ghen...
Chúng tôi mới biết: Anh chàng sĩ quan nào đó, vừa đi tù, vợ ở nhà lấy chàng cán
bộ Cộng Sản địa phương. Trong tù chị cán bộ quản giáo lại mê anh tù, mà đảng gán
ghép anh ta là
kẻ có nợ máu với nhân dân. Chị cán bộ quản giáo, hồ hởi phấn khởi, thắt lưng
buộc bụng, bí mật tranh thủ cung cấp lương khô Trung Quốc, đuờng đen cho anh tù.
Khi đuợc ra trại, anh dẫn chị cán bộ quản giáo vượt biển.
Chẳng may trong chuyến đi này, người vợ cũ của anh tù chính trị cũng lại dẫn ông
chồng mới của bà là cán bộ địa phương cùng đi vượt biển với bà. Tội nghiệp cho
hai ông chồng cúi mặt lầm lì, thở dài, cho thân phận. Một cảnh đời, nhưng hai
oan nghiệt.
Cuối khoang thuyền, có tiếng người đan ông nào đó, bực mình buông xỗng một câu:
"Im mồm đi! Đẹp mặt cái nỗi gì mà huênh hoang!"
Câu chuyện về hai người đan bà đánh ghen giữa mạn thuyền, khơi dậy nhiều lời phê
bình chỉ trích, rộn ràng giữa đem khuya trên biển cả bao la, dưới những chồm sao
khuya thắp sáng một vùng trời lồng lộng.
Mọi nguời trên thuyền đang bàng hoàng về câu chuyện vợ trước ghen tuông vợ sau.
Thình lình có tiếng hét thất thanh:
"Hải Tặc!" Hải Tặc!"
Tiếng hét hốt hoảng từ trên phòng chỉ huy của con thuyền vang vọng, nghe rõ từng
tiếng
một.
Tin
hải
tặc
làm
choáng
váng
mọi
người.
Quang
cảnh
nhốn
nháo.
Trong đem đen và bóng tối, tiếng tim đập phình phịch tưởng chừng như con tim sắp
vỡ tan, thoát ra khỏi lồng ngực. Tôi cũng không biết phải làm gì trong lúc này.
Mọi nguời dường như tự động xích lại gần nhau hơn, nên khoang thuyền rộng thêm
ra. Nhiều tiếng khóc rút rít, run sợ. Các bà mẹ bế xốc trẻ thơ, ghì chặt vào
lòng ngực. Chỉ có các em bé ngủ ngon lành trên tay các bà mẹ vì không biết
chuyện gì đang xảy ra. Các thiếu nữ tháo vòng vàng, nữ trang, nhét vội vào thắt
lưng, nịt ngực, quần áo lót, rồi vội vã trét lọ nghẹ, lọ nồi vào môi, miệng. Vài
thiếu nữ còn bôi thêm vào ngực, vào tay chân những chất nhờn gì mà tôi cũng
không đuợc rõ. Tôi nghe một tràng súng nổ. Mọi người hãi hùng nhìn nhau lo sợ,
không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho bản thân mình. Nhưng không ai nói với ai
điều gì.
Thiếu nữ ngồi bên cạnh tôi, đang ngủ gà ngủ gật, nàng thức choàng dậy, mở mắt
nhớn nhác nhìn quanh. Nàng ôm chặt vai tôi, rồi sau đó cả thân người ngã vào
lòng tôi, mặt tái xanh, khiếp sợ, dường như muốn nhờ tôi che chở. Nàng vừa khóc
vừa năn nỉ tôi: "Nói với bọn chúng, em là vợ của anh và em đang mang thai."
Nàng sợ bủn rủn cả
chân
tay!
Tôi
cũng
không
biết
phải
hành
động
như
thế
nào
để
nàng
bớt
hoảng
hốt.
Tôi
chỉ
an
ủi:
"Đừng
sợ!"
Lại thêm một tràng đạn bắn xối xả trước mũi thuyền. Mặc cho sóng biển gào thét,
con thuyền vượt biển phóng nhanh về hướng trước mặt, tăng tốc dần dần.
Tiếng khóc, tiếng la, tiếng gào thét, tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn thuyền, chen
lẫn với tiếng súng bắn đe dọa. Mặc kệ! Con thuyền cứ vươn mũi lên cao, lướt sóng
bỏ chạy.
Bên kia, tàu hải tặc hung hãn bao quanh. Một loạt đạn
bắn
chỉ
thiên
uy
hiếp!
Tàu
vượt
biển
phóng nhanh bỏ chạy không sợ mất mạng!
Một tràng súng liên thanh bắn xối xả vào phòng lái. Người
tài công chết lặng thinh trong phòng
chỉ
huy
nhưng
hai tay ông vẫn còn ôm chặt cần lái. Thuyền vượt
biển thở dài, nghẹn ngào dừng lại, trôi bồng bềnh trên
mặt biển.
Tàu hải tặc Thái Lan đậu cặp kè một bên ghe vượt biển. Mười tên Hải tặc Thái Lan
nhảy qua ghe chúng tôi. Hai tên tóc hung, mặt mày hung hãn, tay cầm súng. Tám
tên kia cầm dao phay, cán dài. Loại dao này tôi đã thấy nhiều lần khi còn phục
vụ tại Sư Đoàn 5, Bộ Binh.
Anh em quân nhân Nùng thường dùng dao này để phát hoang, dọn rừng, khi phải vượt
qua những bụi rậm, trong các chiến dịch hành quân, tảo thanh phiến cộng ở “Chiến
Khu Đ”, vùng Túc Trung, Long Khánh.
Bọn hải tặc khệnh khạng, khấp kha khấp khểnh, kéo lê đan bà và bé gái về một
phía. Đan ông và bé trai cũng bị lùa về một góc.
Thiếu nữ đang khép nép, nằm trong lòng tôi, giả bộ bịnh, cũng bị chúng lôi xềnh
xệch ra khỏi tầm tay níu lại của tôi. Tên
hải tặc đứng bên cạnh, thấy tôi cố dùng sức níu thiếu nữ này lại, hắn dùng chân,
đạp mạnh vào cánh tay, bị đau quá, tôi buông thiếu nữ này ra, sau đó hắn dùng
chân đá vào bụng tôi như trời giáng. Tôi ngã
chúi xuống, giả vờ bất tỉnh nhưng
mắt vẫn hé mở, để
quan sát tình hình.
Bất thình lình, người
bạn
tù
ngồi
bên
cạnh
tôi
gần
bốn
ngày
qua,
thấy
tôi
bị
tên
hải
tặc
đá
và
một
tên
khác
đang
lôi
xềnh
xệch
người
thiếu
nữ
trên
mạn
thuyền,
với
tiếng
thét
cầu
cứu
của
nhiều
người
đan
bà
khác.
Anh
Hải
rút
súng
bắn
thẳng
vào
hai
tên
cướp
biển
đang
lơ
là
vì
tranh nhau lôi kéo người
thiếu
nữ.
Hai
phát
đạn
hai
thằng
hải
tặc
ngã
chúi xuống máu tung tóe rồi cả hai thân hình ngã nhào, nằm bên cạnh người
thiếu
nữ.
xông
tới
cướp
súng,
nhưng
không
kịp
nữa
rồi,
tên
Nhanh
như
chớp
anh
Hải
quay
người
lại
nhắm
vào
hai
tên
khác
nhả
đạn.
Một
tên
bị
thương
ở
vai,
hắn
ngồi
xổm,mặt
mày
cú
rụ,
lưng
tựa
vào
thành
ghe,
miệng
kêu
la
choang
choác
và
tên
kia
trúng
ngực,
máu
tuông
xối
xả,
ngã
quỵ trên sàn ghe.
Còn lại một viên đạn cuối
cùng,
Hải
nhắm
bắn
một
tên
giặc
biển
nữa,
nhưng
viên
đạn
không
trúng
đích,
Hải
ném
khẩu
súng
thẳng
vào
mặt
hắn.
tên
cướp
biển
né
sang
một
bên,
Hải
định
hải
tặc
dương
súng
thẳng
vào
Hải
nhả
đạn.
Hải
ngã
quỵ trên boong ghe. Tên cướp
biển
nhắm
thẳng
vào
Hải,
bắn
bồi
thêm
một
phát
đạn
nữa,
tôi
thấy
cả
thân
người
anh
Hải
như
vùng
lên
rồi
sau
đó
nằm
im
bất
động.
Tôi nhắm mắt thả hồn cầu nguyện cho thân phận một người bạn thật can đãm trước
những tên vô nhân đạo, mặt người lòng thú.
Sau đó, bọn hải tặc
trở nên
hung dữ hơn.
Quần áo bị lột bỏ. Bọn cướp biển Thái Lan tìm kiếm từng túi áo, túi quần. Chúng
nắn tìm từng gấu quần, viền áo. Chúng lục tung toé các ví da, xách tay, không
còn sót một chỗ nào.
Trước tiên chúng lục soát, tịch thu vàng, tiền bạc, đồng hồ, ngay cả những
chiếcnnhẩn cưới dính chặt trong các ngón tay, cũng bị chúng kéo ra, khỏi những
ngón tay ruớm máu. Bọn hải tặc nhét vòng vàng vào túi quần.
Đan
bà, kể cả những cháu bé gái 12, 13 tuổi, cũng bị chúng dùng dao
đe
dọa, lôi kéo, từ những bàn tay yếu
đuối
của các bà mẹ, với tiếng la khóc, vùng vẫy của các cháu bé, rồi sau
đó
cũng
bị
lùa
vào
một
góc
dưới
mạn
thuyền.
Nhiều
tiếng
khóc
nhếu
nháo,
tức
tưởi
trước
cái
nhìn
bằng đôi
mắt dửng dưng của bọn cướp biển.
Khoảng hai chục đan bà và bé gái bị trói ké hai tay trước bụng, nằm trần truồng,
trên sàn ghe để chờ đến lượt bị hãm hiếp. Làm sao tôi có thể diễn tả đuợc nỗi
kinh hoàng, khiếp đảm của các ông chồng bị trói ké, mắt mở trừng trừng nhìn vợ
con mình, bị những tên cướp biển thay phiên nhau hãm hiếp.
Có một gia đinh mà người
mẹ khoảng 52 - 53 tuổi, mang theo một cô con gái có 2 con là cháu ngoại của bà.
Cả nhà 4 người, mẹ, con gái, hai đứa cháu ngoại, đều bị bọn hải tặc cưỡng dâm.
Không còn
cảnh oan trái nào
mà tôi có thể tưởng tượng đuợc. Sau khi bọn hải tặc như chó quặp đuôi tháo chạy;
gia đình
này chỉ còn biết xoắn xuýt ôm nhau, khóc tức tưởi,
nghẹn ngào...
Chúng chờ chực, đứa này vừa xong, đứa khác lại tranh giành, đến nỗi những người
đan bà bị mệt quá ngất xỉu, nằm im quằn quại như chết, để cho chúng tự do giày
vò thân xác họ, trước mặt những ông chồng, chỉ biết nhìn vợ tuyệt vọng. vì hai
tay bị trói ké, chung vào nhau, từng toán một, nên không thể nào nhúc nhích
đuợc.
Nếu có ai trong các ông chồng này, vẫy vùng, chửi bới thì bị chúng dùng báng
súng đánh
vào
đầu
ngất
xỉu,
rồi
sau
đó
bị
quăng
thây
xuống
biển.
Làm sao tôi có thể diễn tả đuợc tâm trạng của một ông chồng, có người vợ đang
mang thai. Người chồng bị trói chặt, nằm co ro, nhìn vợ đang cố gắng vẫy vùng;
trong khi một tên hải tặc, dồn hết sức lực, cưỡng hiếp bà ta không đuợc, nên hắn
phải xí xô xí xào, nhờ đến hai tên hải tặc khác, mỗi đứa giữ chặt một chân, để
tên cướp biển Thái Lan khốn nạn, ti tiện kia, ngất nga ngất ngưỡng, hãm hiếp
người phụ nữ Việt Nam yếu đuối này. Làm sao tôi có thể thu lại đuợc âm thanh gào
thét của một bé gái, khoảng 14 - 15 tuổi, la khóc, kêu gào thê thảm, khi em bị
chúng cưỡng hiếp. Tên hải tặc quát tháo inh ỏi làm em khiếp sợ, chết lịm, dưới
thân thể vạm vỡ của hắn. Bé gái này vì đau đớn quá, nên cắn vào vai tên hải tặc.
Sau khi bị cưỡng dâm xong, hắn quăng em xuống biển, dưới những cặp mắt kinh
hoàng của thuyền nhân.
Ai vẫy vùng, giãy giụa hoặc chửi bới bị chúng đâm
vào
cổ,
hoặc
bị
đâm
vào
bụng,
máu
chảy
ròng
rã và sau đó cũng bị chúng ném xuống biển.
Bây giờ ngồi đây, tôi không thể nào kể lại cảnh hãi hùng, mà bọn “Cướp Biển Thái
Lan”, đã gieo rắc tang thương cho chuyến tàu vượt biển đó!
Cảnh tượng thật khủng khiếp. Đan bà và trẻ em đều bị chúng hãm hiếp, tiếng khóc
van xin, cầu cứu, vang dội cả một góc trời. Chúng hãm hiếp đan bà và bé gái
không chừa bất cứ một ai. Dã man và bất hạnh nhất là chúng cưỡng hiếp, ngay
trước mắt các ông chồng, cha, mẹ của nạn nhân. Sao những người này làm ngơ cho
đuợc, mà không phản ứng; do đó phần đông thân nhân của người bị hãm hiếp đều bị
quăng thây xuống biển.
Nhiều phụ nữ đẹp, ngoại hình xinh xinh, duyên dáng, đẫy
đa, đã bị chúng hiếp dâm tập thể, hoặc bị hãm hiếp đến
hai
ba
lần.
Hết
đứa
này
đến
đứa
khác,
thay
phiên
làm
trò
dã man như
loài cầm thú, trước mắt thân nhân của người bị cưỡng bức...
Bầu trời đang quang đan,
bỗng
nhiên
tối
sầm
lại.
Mây
đen
ùn
ùn
kéo
tới.
Gió
thổi
mạnh
từng
cơn.
Sấm
sét
vang
rền
một
góc
trời.
Bọn hải tặc đứng nhìn mây đen
bao
phủ.
Sau
một
hồi
bàn
cãi
với nhau inh ỏi, bọn giặc biển hấp ha hấp tấp, xáo xác nhảy vọt qua tàu của
chúng, nhổ neo, vội vàng cong đuôi
tháo chạy, với sự kinh hoàng của thuyền nhân vượt biển.
Tàu cướp biển Thái Lan lạnh lùng bỏ đi, để lại thuyền vượt biển một mình bấp
bênh trơ trọi trên mặt nước bí hiểm của biển Đông. Tình thế rất hiểm nghèo,
nhưng chủ ghe không có một biện pháp kiên quyết nào để may ra còn cứu vãn đuợc
hiểm họa.
Trước đó không lâu, đai khí tượng của Việt Nam, đã dự báo thời tiết tốt, không
mây, gió nhẹ; do đó việc phòng bão, đa xảy ra không đúng với dự kiến. Sự kiện
này làm tôi nhớ lại, sau 1975, Đai Khí Tượng của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam ta, đôi khi cũng thông báo có bão, từ cấp 6 tăng dần lên cấp 7,
cấp 8 nhưng sau đó trời lại quang đãn, không mưa, không bão.
Do đó dân chúng mỗi khi nghe đai khí tượng ta, báo bão, ngư dân ta ngồi tréo
chân chữ ngũ, uống rượu khề khà, cười chế giễu, chê bai: "Khi nào Đai Khí Tượng
của Nhà Nuớc ta dự báo có bão, đồng bào ta, nhân dân ta, đảng ta, nhà nước ta,
chị em ta, cứ yên tâm không có bão, nhưng nếu Đai ta báo trời im, biển lặng, thì
đồng bào ta phải cẩn thận đề phòng, tranh thủ chống bão!"
Đó
là
ngày
thứ
năm,
thuyền vượt biển hăm
hở lội nước, khát khao
đi
tìm bến bờ tự do. Sáng sớm hôm
đó,
sau
khi
bọn
cướp
biển
Thái
Lan
tháo
chạy,
thuyền
hỏng
máy,
lênh
đenh
trên mặt biển. Bầu trời vần vũ những cụm mây
đen.
Trời sắp bão! Mây tím vây kín khung trời! Mưa
bắt đầu rơi nước mắt, khóc thương giọt buồn! Trên trời sấm sét ngoằn ngoèo! Dưới
biển, sóng nưoc dâng cao! Phủ chụp con thuyền! Biển rộng nhuộm màu đen kịt. Gió
rít mạnh từng cơn.
Bầu trời lành lạnh, báo hiệu cho một con “bão biển” kéo về đây
với
gió
bấc
từng
cơn
thổi
lạnh
buốt
thấu
xương.
Mây
đen
vần
vũ,
giăng
tỏa
bầu
trời,
mà
niềm
thương
nỗi
nhớ
trỗi
dậy,
chen
lẫn
hãi
hùng, kinh sợ ngập tràn thân xác.
Những đám mây đen bỗng nhiên từ đâu ào ào kéo đến. Chiếc ghe nghiêng nghiêng,
oằn mình trong mưa gió. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Mưa tầm tã, dai dẳng không
dứt. Loài quạ biển, lông đen xuất hiện, bay thật thấp, réo gọi đan ơi ới, cho ta
cảm giác chết chóc lan tràn khắp xương tủy. Mình thấy mình nhỏ bé giữa đại dương
vô tận, rồi chợt lo toan với cảnh đắm tàu sắp xảy ra trong giây phút.
Khi quyết định ra khơi, tôi đã từng nghe nói đến cảnh vượt biển với những tai
nạn đắm tàu thật hãi hùng và chuyện hải tặc cướp bóc, hãm hiếp đan bà, bé gái
thật dã man, rùng rợn, khủng khiếp, đến nỗi ai nghe cũng dựng cả tóc gáy.
Tuy nhiên tôi cũng không thể nào mường
tượng đuợc sự
kinh
hoàng
đến
mức
độ
như
thế
nào
đâu!
Mãi cho đến
khi
ngồi
trên
mạn
ghe
mỏng
manh,
tôi
nhìn
những đợt sóng cao vời vợi, hình thù như
con quái vật, to như kình
ngư,
kỳ dị như kỳ lân, đầu tóc bạc phơ, miệng há rộng toét loét, nhô răng hàm nhọn
quắt, từ xa phóng nhanh, lướt sóng
chiếc ghe nhỏ xíu, mỏng manh đuợc đóng bằng những tấm ván mỏng mẻo là miếng mồi
ngon, dễ dàng cho những đợt sóng dữ tợn, muốn nuốt trửng lòng ghe vào đại dương
sâu thăm thẳm.
Chiếc ghe lênh đenh, bềnh bồng trên mặt biển như chiếc lá khô trôi trên bờ đại
dương. Biển đổi thành màu đen sậm. Những con sóng to, thẳng đứng như dốc đá, phủ
cao, đổ ập
vào, đua con thuyền lên đỉnh của ngọn sóng, rồi đột nhiên tuột nhanh xuống vực
sâu thăm thẳm.
Chiếc ghe trôi bềnh bồng trên biển cả, như chiếc lá vàng, chưa đúng tuổi rơi
rụng, đang cuồn cuộn trên dòng nước lũ, mà hồi còn nhỏ, mỗi khi lụt lội đổ ập về
thôn làng, bọn trẻ, đứng dọc theo hai bên bờ của dòng nước. Chúng tôi ngắt lá
xoài, lá bưởi, hình thù trông giống như chiếc ghe, để thả trôi theo dòng nước
đang chảy xiết. Bọn trẻ vỗ tay reo hò, khi có một chiếc lá bị lật úp, xoáy tròn,
trôi cuồn cuộn, quay tít theo dòng nước lũ.
Mọi người đang cầu nguyện, càng lúc càng to như đan ong vỡ tổ. Nhưng đến lúc này
sự hãi hùng đa lên đến cực điểm, lời cầu nguyện cũng ngưng hẳn, chỉ còn thấy
những vành môi khô, khép kín, tái xanh. Không ai nói đuợc một lời nào vì ai cũng
mệt nhoài, nghĩ đến cảnh mình sắp chết đuối trong giây phút. Mọi người trên ghe
chỉ còn âm thầm chờ chết. Một vài cặp tình nhân xoắn xuýt, ôm chặt bên nhau,
miệng đang cầu nguyện.
Những ngọn sóng lớn, cao nghều nghệu, tiếp nối nhau, đánh vào thành ghe, đua
chiếc ghe trồi lên, tụt xuống liên tục, tưởng chừng như lần nào ghe cũng sẽ bị
vùi trong lòng đại dương. Mưa càng lúc càng to. Mưa dai dẳng không dứt, kéo theo
những luồng gió lạnh buốt, rét tê tay. Mưa từ giờ này qua giờ khác. Khung trời
ảm đạm, sóng vỗ ngập tràn mặt biển.
Tôi ghì chặt hai tay vào thành ghe, ngồi hàng giờ, nhìn những ngọn sóng dữ.
Những giây phút mong chờ, gió im, biển lặng; bao giờ cũng có bóng dáng của tử
thần! Hy vọng mong manh. Chết chóc chực chờ! Sống hay Chết! Tồn tại hay hủy
diệt.
Đột
nhiên một luồng sóng lớn nổi lên, làm cho ghe bị tròng trành rồi lật úp. Bị sóng
đánh
ra khỏi ghe từ hồi nào tôi cũng không biết. Cố bơi
đi
trên mặt biển mênh mông, chừng mười phút, tôi vớ
đuợc
một can dầu
đang
nổi bềnh bồng trên mặt biển
đen
kịt. Tôi ép can dầu vào giữa lòng ngực. Hai tay kẹp chặt
để khỏi bị sóng đánh văng ra khỏi can dầu.
Lênh đenh trên mặt nước, tôi nhìn thấy một người đan bà cũng đang bám vào can
dầu như tôi. Tôi cố nhoi lên, một hồi lâu mới ngóc đầu lên đuợc. Tôi chồm người
để ngực mình nằm trọn trên can dầu, dùng tay phải dơ cao lên, tay trái tôi vẫn
bám chặt can dầu, tôi hét to, vẫy gọi:
"Cố gắng lên, may ra còn sống, để
thuyền
bè
qua
lại
cứu
vớt
mình!"
Người đan bà nghe tiếng tôi gọi, ngước mặt lên và hét lớn: "Anh Duy, cứu em
với!"
Tôi nhìn kỷ, thiếu nữ còn rất trẻ, đa ngồi bên cạnh tôi suốt ba bốn ngày đem,
dưới
mạn
thuyền,
trong
chuyến
vượt
biển
hãi
hùng này.
Tôi vội hỏi: "Cố gắng lên! Sao biết tên tôi?"
Nàng đáp: "Em nghe các bạn trên ghe, gọi tên anh, nên em biết."
Tôi hỏi tiếp: "Tên cô là gì?
"Oanh! Tên em là Thùy Oanh!"
Nàng hỏi tôi: "Mình nằm dưới
nước khá lâu rồi. Em lạnh quá chắc không thể nào còn
sức để
ôm
chặt
cái
can
dầu
đuợc
nữa,
anh
Duy
ơi!"
Tôi nói: "Nếu Oanh buông tay khỏi can dầu thì sẽ chết ngay thôi! Hãy bám chặt
can dầu thì còn có hy vọng sống sót. Hãy cố dùng hai tay và hai chân đạp
mạnh
dưới
nước
như
mình
đang
bơi
để
chống
lạnh.
Nào
làm
thử
như
anh
đây
nè."
Tôi vừa nói vừa đạp mạnh đôi chân và dùng tay bơi trên mặt nước. Oanh cũng bắt
chước làm theo tôi. Một lúc sau tôi hỏi Oanh: "Có thấy bớt lạnh không?"
Nàng thở mệt nhọc và đáp: "Bớt lạnh hơn nhưng em thấy mệt quá. Em sắp đuối sức
rồi!"
Tôi giải thích: "Đừng làm như thế liên tục sẽ bị thấm mệt, nhưng khi thấy lạnh
phải cử động mạnh, để chống lạnh!"
Chúng tôi lênh đenh trên mặt nước khoảng một giờ. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một
rừng cây, tôi biết đó là một hải đảo, nên chúng tôi cố hết sức mình dùng tay và
chân để cố bơi vào bờ. Oanh gần như đuối sức, muốn buông tay ra khỏi can dầu.
Cuối cùng cả hai chúng tôi thấy chân mình chạm cát. Tôi hét lên và hỏi Oanh: "Đã
vào đuợc bờ rồi, có thấy chân Oanh chạm cát chưa?"
"Có."
Tôi đứng dậy và kéo can dầu vào bờ, trong khi đó Oanh vẫn còn nằm bẹp trên can
dầu, cô ta thở phì phèo như muốn đuối sức. Tôi trở ra dìu nàng đứng dậy và cũng
không quên kéo can dầu của nàng vào bờ.
Tôi dìu cô ta nằm trên bãi cát. Chừng mười
lăm phút sau, nàng tỉnh lại và hỏi tôi:
"Đây
là
đâu?"
Tôi đáp: "Tôi cũng không rõ, nhưng
biết chắc đây là một hải đảo gần một quốc gia nào đó ... thuộc Thái Lan, Phi
Luật Tân hay Mã
Lai!"
Nàng
gục mặt vào đầu gối,
òa khóc nức nở, trong khi tôi mới hoàn hồn vì đa đuợc
Trời
Phật
ban
ơn
cho
mình
trôi giạt
vào đây, dù là một hải đảo hoang vắng song vẫn còn
có cơ
may sống sót và hy vọng đuợc tàu thuyền qua lại cứu vớt.
Tôi an ủi nàng: "Can đảm lên Thùy Oanh! Chúng ta còn nhiều hy vọng đuợc tàu
thuyền qua lại cứu vớt!"
Hải đảo cách bờ không bao xa. Tôi chạy vội vào mé rừng, dùng hai tay che lại để
làm loa và hét lớn:
"Có
ai
trên
đảo
không?"
Tôi kêu nhiều lần nhưng chẳng có tiếng đáp. Chỉ có tiếng dội lại của rừng cây
ngút ngàn, bao la: "Có ... có ... không... không ... không."
Sực nhớ ra mình đang
kêu
gào
bằng
tiếng
Việt,
lỡ
may
ra
trên
đảo
là
người
Thái,
Phi
hay
Mã Lai thì làm sao họ hiểu mình nói gì. Do đó, tôi hét to:
" Anybody here? Anybody here?"
Tôi chờ một chập lâu sau, vẫn không nghe tiếng đáp. Tôi vội quay lại chỗ Oanh
đang ngồi.
Khi còn ở trong quân đội tôi đa đuợc
học
cách
thoát
hiểm
và
mưu
sinh,
nên
tôi
đề
nghị
với
Oanh:
"Chúng mình không biết còn phải ở trên đảo
này
bao
lâu
nữa,
nên
ngay
bây
giờ
chúng
ta
phải
tìm
mọi cách để
mưu
sinh.
Vậy
Oanh
ngồi
lại
đây.
Tôi
sẽ
đi
dọc
theo
bờ
biển
này,
để
xem
có
vật gì trôi giạt
vào,
tôi
sẽ
mang
về
đây."
Nàng không đáp, cũng không tỏ một cử chỉ nào gọi là đồng tình. Tôi kéo nàng đứng
dậy, tránh xa bờ biển để khỏi bị sóng lớn kéo ra đại dương. Đi dọc theo bờ biển,
cứ độ vài chục bước, tôi nhìn lại, để biết chắc Thùy Oanh vẫn còn ngồi yên tại
chỗ. Vừa đi vừa suy nghĩ lung tung, bỗng nhiên tôi thấy một bao ny-lông to, màu
đen, đang nằm chênh vênh phía trước mặt. Bao ny-lông này không bị nước thấm ướt,
vì đa đuợc cột chặt.
Tôi vội mở ra xem thử coi gồm có những thứ gì. Vật đầu
tiên,
tôi
thấy
là
một
cái
bật
lửa
hiệu
Trung
Quốc.
Tôi
lấy
ra
bật
thử,
thấy
có
ánh
lửa.
Mừng
quá,
tôi
lôi
cái
bao
về
lại
chỗ
cũ,
nơi
Oanh
đang
ngồi
chờ...
Về đến nơi, tôi mở bao ra xem. Tôi không thể nào tưởng tượng đuợc, trong bao
ny-lông này có những thứ linh tinh như nhợ, lưỡi câu, cước dùng để câu cá.
Trong bao cũng có một con dao nhỏ,
bảy
lưỡi,
loại
đi
rừng
mà
các
anh
em
trong
binh
chủng
Nhảy
Dù,
Thủy
Quân
Lục
Chiến
và
Lực
Lượng
Đặc
Biệt
vẫn
thường
dùng,
mỗi
khi
đi
hành
quân.
Thùy Oanh hỏi lại tôi:
"Mình nhặt những vật này để làm gì?" Nàng vừa hỏi vừa run rẩy.
Tôi đáp: "Chúng mình rất
cần
những
vật
ấy
để
mưu
sinh.
Chẳng
hạn
như
cái
bật
lửa sẽ giúp mình nhen lửa để suởi
ấm
và
nấu
thức
ăn
khi
cần."
Trong sương mù, bãi biển mịt mùng, Oanh ngồi trầm lặng, mình trần truồng như
nhộng. Da mặt nàng trắng trợt vì ngâm dưới nước quá lâu. Tuy nhiên đôi chân nàng
lộ lên một vùng da dẻ trắng trẻo, nõn nà. Tôi chợt nghĩ mình không nên nhìn như
thế, nên an ủi nàng:
"Can
đảm
lên
Oanh!"
Tôi đua bao ny-lông cho nàng che thân và kéo Oanh vào mé rừng. Tôi nhen nhanh
một cụm lửa để sưởi ấm cho cả hai đứa. Chúng tôi đi sâu vào hải đảo độ một trăm
thước, tôi thấy một con “ba-ba” đang đao cát đẻ trứng. Tôi đứng lại để cho con
“ba-ba” đẻ xong và lấp trứng lại, tôi đến bên cạnh nó và dùng cả sức mạnh của
mình, lật ngữa con ba-ba đua bốn chân lên trời. Chàng ba-ba vùng vẫy một hồi lâu
rồi cũng nằm im, mắt liêng liếc nhìn quanh.
Tôi hỏi Oanh có ăn đuợc thịt ba-ba không?
Nàng đáp: "Thỉnh thoảng em có ăn trứng, chứ chưa bao giờ ăn thịt ba-ba."
Đi
một khoảng nữa, tôi lại thấy một chú ba-ba
đang
đao
cát
đẻ
trứng.
Tôi
cũng
lật
ngược
chú
ba-ba
thứ
hai
như
tôi
đã làm lần trước.
Thịt của hai con ba-ba và vài trăm
trứng của chúng, Thùy Oanh và tôi có thể sống
đuợc
vài tuần lễ, nếu tìm
đuợc
mạch nước ngọt.
Một chập lâu sau, tôi tìm đuợc
một
hang
đá
trống
rỗng,
rộng
như
một
cái
lều
tranh
vừa
đủ
kê
hai
cái
giường.
Tuy
nhiên
hang
đá
trống
rỗng,
lại
sợ
ác
thú
và
rắn
rừng,
nên
tôi
đi
lôi
về
một
số
củi
khô,
nhen
lửa
lên
để
tránh
ác
thú.
Sau khi đốt đuợc hai đống lửa cháy hừng hực, tôi trở lại nơi con ba ba để lấy
vài chục trứng về nướng lên ăn. Nướng trứng ba-ba bằng cách: Tôi đao cát làm
thành một cái lỗ, bỏ trứng ba-ba xuống, rồi lấp cát lại. Tôi sắp củi khô bên
trên và đốt lửa để sức nóng của lửa sẽ làm chín trứng đang để ở phía dưới. Đây
là kinh nghiệm của anh em tù nhân chính trị khi nướng mì, khoai lang hay bắp,
chúng tôi đều làm như vậy để khỏi bị bọn quản giáo phát giác.
Độ
chừng
nửa
giờ
sau,
tôi
đao
trứng lên và chia cho Oanh
ăn
đỡ đói.
Chúng tôi nhai ngấu nghiến,
ăn
rất ngon lành vì gần cả ngày chưa
ăn
uống gì nên bụng trống rỗng, cồn cào. Tôi bảo Oanh ngồi lại tại hang
để
châm
củi
vào
hai
đống
lửa, còn tôi
đi
chung quanh hải
đảo
để
quan
sát
và
tìm
cách mưu
sinh.
Tôi hết sức ngạc nhiên vì thấy những lon đồ hộp của quân đội đa mở ra dùng rồi,
bỏ rải
rác trên một sân bắn linh tinh. Do đó tôi biết nơi đây là một bãi tập quân sự
nhưng tôi không rõ bãi tập này của quốc gia nào.
Tôi nhặt một vài cái lon, một thùng đạn đại liên 30, mang về chỗ Oanh đang ngồi
chờ. Đem hôm đó, tôi đốt lửa lên cho ấm, và cũng để tránh thú rừng. Tuy đang ở
trên một hoang đảo, song tôi cũng cố kéo gỗ rừng, mang về hang, để làm hai cái
sạp nhỏ như hai cái giường ngủ, không nằm trực tiếp dưới cát, để tránh rắn rết,
bò cạp rừng rất nguy hiểm.
Đem
đầu
tiên trên hải
đảo,
không thể nào ngủ
đuợc,
tôi nằm lắng tai nghe những âm thanh dị kỳ của núi rừng về
đem,
tiếng gió reo, thổi
động
vào cành cây nghe xào xạc, tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng chim cú rúc, tiếng sóng
vỗ rì rầm và thỉnh thoảng tiếng vạc
đi
ăn
đem
gọi nhau rờn rợn.
Tôi lẩm bẩm đua mắt nhìn ra biển khơi. Vài giọt mưa gõ xuống từ vách đá. Gió vẫn
ì ầm như tiếng lòng tôi rạo rực. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào cũng chẳng biết. Rồi
cũng qua một đem ngủ im vắng với nhiều mộng đẹp.
Tôi choàng thức dậy, bên cạnh tôi Oanh đang trở mình tìm giấc ngủ. Da thịt nàng
trắng ngần dưới
ánh sao. Tâm tư bớt trống vắng, tôi biết sáng chiều mình
còn có Oanh.
Ngoài hang động, núi rừng bao la làm tôi khiếp sợ...
Ngày hôm sau, hải đảo mưa nhiều. Những hàng cây chết lặng. Lá bắt đầu đổi màu.
Trời vào Thu. Mưa giăng bốn hướng. Mưa cứ mưa. Tôi cố lôi những khúc gỗ tròn, về
rào hai bên trống rỗng của cái hang để tránh dã thú.
Ban ngày lẫn ban đem, tôi đốt một cụm lửa to, cháy sáng rực. Tôi đốt thêm lá
tươi tỏa khói bay cao, để cho tàu bè ngoài khơi dễ trông thấy.
Ngoài những công việc thường xuyên, tôi cũng luôn luôn săn sóc hai chú ba-ba
bằng cách lấy nước biển cho chúng uống. Khi còn ở trong trại tù, tôi đuợc nghe
anh em tù nhân chính trị kể những kinh nghiệm sống, thực tiển về loại rùa và
baba.
Loài này sống rất lâu nếu chúng đuợc uống nước, nhất là uống sương, chúng có thể
sống cả tháng. Hàng ngày tôi theo dõi và săn sóc hai chú ba-ba, khi chúng sắp
chết, tôi xẻ thịt và nhúng nước biển phơi khô, để đề phòng khi thiếu lương thực.
Chừng một
tháng sau, tôi phát hiện ra, ở hải đảo này thuờng xuyên có ba-ba vào đây đẻ
trứng, do đó tôi đặt tên hải đảo này là : “Đảo Ba-Ba.”
Về nước ngọt để uống, tôi lấy nước biển, rồi cất lên như ở thôn quê người ta cất
rượu. Tôi dùng cách cất rượu theo kiểu này, trong một ngày cũng có đuợc hai lon
nước Tôi bớt hoảng hốt vì tìm ra đuợc thức ăn và nước uống.
Tuy nhiên vì không rành về loài ba-ba sinh đẻ
vào
tháng
nào,
mùa
nào.
Nên
tôi
đã phải tìm cách lật thêm một con
ba-ba nữa để làm lương thực dự phòng.
Mỗi khi lật đuợc
chú
ba-ba
thứ
ba,
tôi
lại
giải
phóng
chú
ba-ba
đã bị lật lần thứ nhất.
Tôi làm như vậy nên lúc nào cũng có 3 chàng ba-ba để làm lương thực dự phòng.
Chúng tôi sống ở đây thấm thoát đa sắp ba tuần lễ
rồi,
nhưng
không
thấy
thuyền
bè
nào
qua
lại.
Thỉnh
thoảng
cũng
có
một
vài
phản
lực
cơ
bay
quanh
vùng
này,
trên
bầu
trời
thật
xa.
Chúng
tôi
chỉ
thấy
một
làn
khói
trắng
thoát
ra,
từ
đuôi
phản
lực
cơ,
để
lại
phía
sau
đuờng
bay,
một
vệt
dài
thẳng
tắp
và
mờ
dần
trong
ánh
mắt
Thùy
Oanh,
vương
vấn
sợi
buồn.
Chúng tôi cũng không thấy một chiếc trực thăng nào bay quanh vùng biển này.
Tôi nhặt những khúc gỗ, sắp thành chữ S.O.S (Save Our Soul) hy vọng phi cơ bay
qua vùng này nhận đuợc tín hiệu, may ra mình đuợc cứu thoát.
Dần dần tình cảm của Thùy Oanh và tôi càng ngày càng nẩy
nở
và
đến
một
đem
thao
thức,
chúng
tôi
đã thổ lộ cho nhau nghe.
Cuộc sống tuy nhiều gian truân nhưng chúng tôi có đuợc hạnh phúc bên nhau. Ngày
tháng cũng dần dần trôi qua!
Hơn ba tháng sau, ngoài khơi nơi chúng tôi đang sinh sống, có một chiếc tàu bị
hỏa hoạn, khói đen bay cao ngút trời. Sau đó tôi thấy nhiều máy bay trực thăng
và 2, 3 chiếc L.19 loại quan sát bay trên biển cả. Tôi và Oanh vừa đốt lửa, vừa
nhen khói, vừa đánh tín hiệu SOS suốt cả nửa giờ. Một chiếc L.19 bay xà ngang
qua trên đầu của chúng tôi, lượn qua lượn lại nhiều vòng.
Đột
nhiên, chiếc trực thăng
hạ cánh ngay trên bờ biển. Thùy Oanh và tôi
đuợc
cứu thoát khỏi hoang
đảo
vào ngày 8 tháng 8 năm
1988.
Trước khi leo lên chiếc trực thăng, tôi cũng không quên, giải phóng 3 chú ba-ba
đang nằm đua bốn chân lên trời.
Chúng tôi đuợc đua về trại tỵ nạn Mã Lai và sau đó đuợc định cư tại Hoa Kỳ.
(*1:
3
lượng
vàng)
* Viết
theo lời của một thuyền nhân kể lại
Duy Xuy
ên
Tacoma